Dynamic Memory Lab
»Nước Đức. (Những) câu chuyện di cư Việt-Đức«

Dynamic Memory Lab »Nước Đức. (Những) câu chuyện di cư Việt-Đức«

Dynamic Memory Lab »Nước Đức« xem xét lịch sử di cư Việt-Đức cũng như tìm hiểu việc lịch sử được nhớ và kể lại như thế nào – hay bị kìm nén và che đậy ra sao.

Trọng tâm là những kí ức và trải nghiệm của cộng đồng người Việt tại Đức, những người đã di chuyển và giao thoa qua nhiều thập kỷ giữa những cuộc chạy nạn và lao động hợp đồng, giữa miền Bắc và Nam Việt Nam cũng như giữa Đông và Tây Đức, giữa lịch sử bạo lực và sự tự chủ. Nước Đức tạo không gian cho những trải nghiệm hiếm khi được xem xét tương quan hay tương phản nhau, mặc dù chúng đan xen với nhau chặt chẽ. Những trải nghiệm này cùng nhau tạo nên một không gian văn hóa kí ức xung đột, bao trùm các khuynh hướng chính trị và xã hội của Chiến tranh Lạnh và giai đoạn sau thống nhất – giống như một chiếc la bàn hé lộ cả những rạn nứt về ý thức hệ lẫn những liên kết tiểu sử.

Giám tuyển Nguyễn Đan Thy và Nina Reiprich tập hợp các đóng góp từ những nghệ sĩ và nhà hoạt động thuộc thế hệ người nhập cư Việt trẻ tại Đức, những người tiếp cận lịch sử di cư Việt-Đức từ góc nhìn đa chiều. Thông qua các cuộc đối thoại nghệ thuật, văn bản cá nhân và chuỗi phỏng vấn, những người tham gia Nước Đức lần theo những trải nghiệm phức tạp của cộng đồng người Việt tại Đức. Họ vén màn những mâu thuẫn, rạn nứt và khoảng cách. Những trải nghiệm này được kể lại như một không gian tham chiếu lẫn nhau: như những ký ức của một cộng đồng đa nguyên – và như những ký ức của một xã hội đa nguyên. Đây chẳng phải là những lời kể tuyến tính, mà là sự tương tác giữa các góc nhìn khác nhau. Tại đó, Nước Đức đặt ra những câu hỏi trọng tâm: Những ai được lắng nghe? Những ký ức nào được dành chỗ? Điều gì nằm lại trong bóng tối? Và làm sao có thể kể lại một câu chuyện lịch sử chung với đa góc nhìn?

Các giám tuyển và nghệ sĩ mời và khuyến khích ta hiểu lịch sử di cư Việt-Đức với tất cả sự phức tạp của nó như một phần lịch sử chung của chúng ta về Đức và châu Âu. Dynamic Memory Lab Nước Đức mở ra một không gian cho những hình thức mới mẻ, đa tầng về việc tưởng nhớ chung, kêu gọi chất vấn về ranh giới các diễn ngôn ký ức và trên hết là củng cố kí ức như một chức năng của xã hội chúng ta.

Dòng thời gian

Ngày 31 tháng 8 năm 1858: Bắt đầu chế độ thực dân kéo dài gần 100 năm của Pháp trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay bằng cuộc tấn công vào thành phố cảng Tourane (Đà Nẵng)

Tháng 6 năm 1862: Sau bốn năm chiến tranh và vây hãm, buộc nhượng lại một số vùng lãnh thổ cho chính quyền thực dân và chiếm được các thành phố quan trọng như Sài Gòn

Từ ngày 19 tháng 12 năm 1946 đến ngày 1 tháng 8 năm 1954: Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất

Từ ngày 26 tháng 4 đến ngày 20 tháng 7 năm 1954: Hội nghị Genève về Đông Dương

Ngày 21 tháng 7 năm 1954: Tuyên bố Hiệp định Genève về Đông Dương

1955 đến 1976: Chiến tranh Việt Nam

1973: Quân đội Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam Việt Nam

1975: Chính quyền miền Nam Việt Nam sụp đổ và Sài Gòn thất thủ

Ngày 2 tháng 7 năm 1976: Việt Nam chính thức thống nhất thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

1978: Bắt đầu tiếp nhận người miền Nam Việt Nam tị nạn vào Cộng hòa Liên bang Đức trong khuôn khổ các chương trình nhân đạo

1980: CHDC Đức bắt đầu tuyển dụng lao động hợp đồng Việt Nam

Ngày 22 tháng 8 năm 1980: Tấn công đốt phá ký túc xá dành cho người tị nạn Việt Nam ở Hamburg-Billbrook

Từ ngày 17 đến 23 tháng 9 năm 1991: Cuộc bạo động ở Hoyerswerda

Từ ngày 22 đến 26 tháng 8 năm 1992: Cuộc bạo động Rostock-Lichtenhagen

Tháng 6 năm 1997: Nghị quyết về quy định thống nhất toàn bang về quyền cư trú đối với người lao động hợp đồng trước đây

Từ năm 2011 đến năm 2024: Xây dựng quan hệ đối tác chiến lược giữa Đức và Việt Nam, ký kết thỏa thuận tuyển dụng có mục tiêu lao động có tay nghề và thực tập sinh Việt Nam, ưu tiên các ngành nghề thiếu ổn định như điều dưỡng, ngành khách sạn và dịch vụ ăn uống.

Chiến tranh Đông Dương/Chiến tranh Việt Nam/Thống nhất
Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954)

Tiếp nối các phong trào phi thực dân hóa toàn cầu sau Thế chiến II, từ những năm 1940, một phong trào độc lập đa tầng đã phát triển tại thuộc địa của Pháp lúc bấy giờ là “Đông Dương“. Phong trào này do Việt Minh, một lực lượng theo khuynh hướng cộng sản lãnh đạo. Cuộc vận động chống thực dân này dẫn đến việc bắt đầu cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất năm 1946, mà trong đó, phong trào độc lập của Việt Nam đã chiến đấu chống lại lực lượng thực dân Pháp.

Chiến tranh kết thúc với Hiệp định Geneva về Đông Dương vào ngày 21 tháng 7 năm 1954. Hiệp định này đồng thời đánh dấu sự kết thúc của chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam và quy định việc phân chia tạm thời đất nước dọc theo vĩ tuyến 17. Ở miền Bắc, nhà nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam theo Chủ nghĩa Xã hội Cộng sản được thành lập dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong khi ở miền Nam, các lực lượng chống cộng được phương Tây hậu thuẫn đã nắm quyền kiểm soát. Trong đó gồm các nhóm ủng hộ chế độ quân chủ, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Công giáo, hoặc cai trị theo chế độ độc tài. Việc phân chia dự kiến sẽ kéo dài cho đến cuộc tổng tuyển cử toàn quốc năm 1956, nhưng cuộc bầu cử đã không bao giờ diễn ra. Thay vào đó, xung đột leo thang và dẫn đến Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai vào năm 1955, được quốc tế gọi là „Chiến tranh Việt Nam“, còn ở Việt Nam gọi là „Chiến tranh chống Mỹ“.

Từ phi thực dân hóa đến chiến tranh Việt Nam: Phân chia, can thiệp và thống nhất Việt Nam (1955–1976)

Chiến tranh Việt Nam (1955–1976), ở Việt Nam còn được gọi là „Chiến tranh Mỹ“, đã trở thành một xung đột then chốt của Chiến tranh Lạnh: miền Bắc Việt Nam được Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hỗ trợ về mặt quân sự và tư tưởng, trong khi miền Nam Việt Nam nhận được viện trợ quân sự và tài chính khổng lồ từ Hoa Kỳ và các đồng minh. Những căng thẳng nội bộ ở miền Nam – như giữa các lực lượng Công giáo và Phật giáo cũng như giữa quân chủ và dân chủ – càng dẫn đến bất ổn chính trị.

Cuộc chiến chịu ảnh hưởng bởi chiến tranh phi đối xứng, cũng như bởi các loại vũ khí và hệ thống vũ khí như bom Napalm và súng phun lửa. Các loại vũ khí phá hủy khả năng canh tác nông nghiệp cũng được sử dụng, chẳng hạn như Chất độc da cam, chất diệt cỏ và làm rụng lá khét tiếng, thứ cho đến ngày nay vẫn tiếp tục gây ra những tổn thất nặng nề tới người dân và môi trường. Do tác động tàn phá của chúng, những vũ khí này đã bị hạn chế vào năm 1980 theo một nghị định thư của Liên Hợp Quốc và từ năm 1983 được ghi nhận trong luật pháp quốc tế.

Chiến tranh Việt Nam đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu thường dân và khơi mào các cuộc biểu tình phản đối sự can thiệp của Hoa Kỳ trên toàn thế giới. Sự can thiệp của Hoa Kỳ đạt đến đỉnh điểm vào cuối những năm 1960, nhưng vấp phải sự phản kháng ngày càng tăng từ cả dư luận toàn cầu và xã hội dân sự Hoa Kỳ. Sự phản kháng này đã có những tác động chuyển biến ở phương Tây: Các cuộc biểu tình phản chiến trong những năm 1960 và đầu những năm 1970 đã thay đổi căn bản văn hóa phương Tây bằng cách tạo tiền lệ cho phong trào phản kháng quần chúng và hoạt động chính trị do thanh niên lãnh đạo, thách thức các cấu trúc quyền lực truyền thống. Những cuộc biểu tình này đã góp phần thúc đẩy phong trào phản văn hóa rộng lớn hơn và ảnh hưởng đến nhiều hình thái biểu đạt nghệ thuật đa dạng, từ âm nhạc, văn học và thời trang đến thái độ chính trị đối với chính phủ, can thiệp quân sự và sự tuân thủ xã hội.

Sau khi quân đội Hoa Kỳ dần rút lui (năm 1973) và chính quyền miền Nam Việt Nam sụp đổ (năm 1975), Việt Nam chính thức thống nhất thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam dưới sự lãnh đạo của cộng sản vào năm 1976 – một bước ngoặt có hệ quả sâu rộng về chính trị, xã hội và văn hóa kí ức.

Lịch sử xung đột kéo dài ba thập kỷ đã ảnh hưởng sâu sắc đối với xã hội Việt Nam, cán cân quyền lực địa chính trị ở Đông Nam Á và văn hóa kí ức tập thể – không chỉ ở Việt Nam mà còn ở phương Tây, đặc biệt là tại Hoa Kỳ. Cuộc chiến đã trở thành một đấu trường biểu tượng của những cuộc đối đầu tư tưởng giữa phi thực dân hóa và sự thống trị toàn cầu, giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản, giữa chế độ độc đảng xã hội chủ nghĩa và các nền dân chủ.

Việt Nam thống nhất: Thành lập nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1976)

Với việc tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam vào ngày 2 tháng 7 năm 1976, miền Nam Việt Nam, vốn trước đây có khuynh hướng theo chủ nghĩa tư bản và phương Tây, đã hoàn toàn sáp nhập vào nhà nước và hệ thống xã hội cộng sản của miền Bắc. Chính quyền Hà Nội đã thực hiện một cuộc tái cấu trúc xã hội chủ nghĩa toàn diện, bao gồm tập thể hóa nông nghiệp, quốc hữu hóa nền kinh tế, cũng như đàn áp chính trị đối với các cựu quan chức trước đây của chế độ miền Nam Việt Nam hoặc đối với các hình thức biểu đạt văn hóa bị coi là „tư sản“ hoặc „phản động“.

Quá trình này không chỉ đồng nghĩa với sự đồng hóa chính trị và kinh tế của miền Nam với miền Bắc Việt Nam cộng sản, mà còn là sự xóa bỏ hoặc gạt ra ngoài lề một cách có chủ ý các dấu ấn bản sắc miền Nam Việt Nam – thể hiện rõ trong việc cấm nhạc vàng phổ biến. Các cựu thành viên bộ máy nhà nước miền Nam và giới trí thức bị giam giữ một cách có hệ thống trong cái gọi là „trại cải tạo“. Từ góc nhìn của nhà nước chính thức, thống nhất được ca ngợi là chiến thắng trước chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân mới; ở miền Nam đất nước, lại được cảm nhận chủ yếu như một sự mất mát đối với nền độc lập văn hóa và sự khởi đầu của một cuộc tái tổ chức mang tính đàn áp.

Di cư tách biệt và xung đột giữa các cộng đồng

Giữa chạy nạn và tuyển dụng

Hàng chục ngàn người miền Nam Việt Nam bị giam giữ trong các „trại cải tạo“, và gần 2 triệu người – bao gồm nhiều trí thức, nghệ sĩ và cựu quân nhân – đã chạy trốn khỏi sự tiếp quản quyền lực của cộng sản sau khi Sài Gòn sụp đổ, nhiều người trong số họ đã vượt biển Đông. Họ được gọi là „người tị nạn bằng thuyền“.

Bắt đầu từ năm 1978, Cộng hòa Liên bang Đức đã tiếp nhận những người tị nạn này trong khuôn khổ chương trình nhân đạo. Không giống như những người tị nạn khác, những người miền Nam Việt Nam ở Tây Đức được công nhận rõ ràng là những người bị đàn áp chính trị bởi chủ nghĩa cộng sản – một tình trạng đồng thời biến họ thành biểu tượng của tinh thần đoàn kết chống cộng trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh. Việc lợi dụng người tị nạn Việt Nam không chỉ nhằm hợp pháp hóa các chính sách tị nạn của phương Tây mà còn thiết lập ranh giới tư tưởng với phương Đông xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh sự hỗ trợ rộng rãi của nhà nước, người miền Nam Việt Nam ở phương Tây đồng thời trải qua sự độc tài văn hóa và một chính sách hội nhập mang tính gia trưởng. Trong cộng đồng người Việt ở Tây Đức, các cấu trúc lưu vong mang tính chính trị đã phát triển, gắn liền với một ý thức tự thân chống cộng.

Việc di cư sang Cộng hòa Dân chủ Đức diễn ra hoàn toàn khác: Bắt đầu từ năm 1980, trong khuôn khổ các hiệp định song phương, các lao động hợp đồng người Việt Nam – chủ yếu đến từ miền Bắc Việt Nam – được tuyển dụng có mục tiêu cho các công việc tạm thời. Thời gian lưu trú của họ theo quy định bị giới hạn trong bốn đến năm năm và không bao gồm việc bảo lãnh gia đình cũng như triển vọng thường trú hay sự tham gia vào đời sống xã hội. Cuộc sống hàng ngày của họ bị chi phối bởi sự bóc lột kinh tế, mức lương thấp, sự tiếp cận giáo dục hoặc các khóa học ngôn ngữ hạn chế, cũng như sự kiểm soát xã hội chặt chẽ của chính quyền Việt Nam và Đông Đức. Phụ nữ mang thai thường bị trả về Việt Nam ngay lập tức hoặc thậm chí bị buộc phải phá thai. Bị bố trí sống trong các khu ký túc xá biệt lập, việc chung sống xã hội với người dân Đông Đức bị ngăn chặn một cách có hệ thống – thông qua cả các quy định chính thức lẫn sự loại trừ tinh vi.

Những rạn nứt giữa cộng đồng người Việt ở Đông Đức và người Việt ở Tây Đức

Sau năm 1975, những căng thẳng chính trị và xã hội sâu sắc đã phát triển giữa cộng đồng người Việt ở Đông và Tây Đức. Đa số người tị nạn từ miền Nam Việt Nam sống ở Tây Đức, họ được tiếp nhận như những người bị ngược đãi chính trị bởi chủ nghĩa cộng sản và thường duy trì một ý thức chống cộng mạnh mẽ. Sự tiếp nhận họ đáp ứng cùng lúc cả mục đích chính sách đối ngoại lẫn ý thức hệ: Bằng cách tiếp nhận „người tị nạn bằng thuyền“, Cộng hòa Liên bang Đức tự đặt mình như một đối trọng về mặt đạo đức đối với khối Đông.

Tuy nhiên, tại CHDC Đức, lao động hợp đồng từ miền Bắc Việt Nam được tuyển dụng trong khuôn khổ các thỏa thuận song phương. Lưu trú của họ gắn liền chặt chẽ với hệ thống xã hội chủ nghĩa, vốn chủ yếu coi họ là những lao động chức năng – chứ không phải là những thành viên xã hội bình đẳng, bất chấp tinh thần đoàn kết quốc tế được tuyên truyền. Dấu vết của những thế giới riêng biệt này vẫn còn hiện hữu cho đến ngày nay: Trong khi các nhóm chịu ảnh hưởng bởi chủ nghĩa dân tộc ở Tây Đức – được hình thành bởi những trải nghiệm đau thương từ việc chạy nạn và chiến tranh – tố cáo cộng đồng ở Đông Đức gần gũi với một „chế độ bất công“ hoặc thậm chí đồng trách nhiệm cho việc bạo lực chính trị tại các cuộc chiến, thì tiếng nói từ cộng đồng người Việt ở Đông Đức lại chỉ trích sự đồng hóa bị cho là quá mức cũng như sự xa cách với cội nguồn của chính mình trong cộng đồng người Việt ở Tây Đức.

Vẫn chưa rõ liệu những xung đột này có đóng một vai trò nào đối với thế hệ thứ hai hay không. Những khác biệt vẫn tồn tại cho đến ngày nay – ít dưới hình thức đối đầu công khai, mà dưới sự thiếu hiểu biết lẫn nhau. Thực tế cuộc sống, giao tiếp xã hội và ảnh hưởng chính trị của các bên thường không được chia sẻ, điều này hạn chế khả năng trao đổi và tạo nên ký ức chung.

Những kẻ cực đoan cánh hữu và bạo lực phân biệt chủng tộc

Sự cực đoan hóa theo chủ nghĩa cánh hữu và khủng bố ở Cộng hòa Liên bang Đức (những năm 1980)

Từ những năm 1960, một chủ nghĩa cực đoan cánh hữu ngày càng hiếu chiến đã phát triển tại Cộng hòa Liên bang Đức. Các đảng như NPD ban đầu được hưởng lợi từ các biến động chính trị, nhưng đã mất đi ảnh hưởng khi các đảng thuộc liên minh chuyển sang cánh hữu vào những năm 1970. Cùng lúc đó, các bộ phận cực hữu trở nên cực đoan hơn: các nhóm tân Quốc xã như „Các Nhóm Hành động Đức“ được thành lập, tuyên truyền bạo lực và phát động các cuộc tấn công có chủ đích vào người di cư. Những biến chuyển xã hội vào những năm 1980 tại Cộng hòa Liên bang Đức – ảnh hưởng bởi toàn cầu hóa, bất ổn xã hội gia tăng và các cuộc tranh luận về chính sách di cư – đã lần nữa bùng phát các cuộc vận động phân biệt chủng tộc. Trong bối cảnh đó, các thành viên của „Các Nhóm Hành động Đức“ đã thực hiện một vụ tấn công đốt phá vào ký túc xá của người tị nạn Việt Nam tại Hamburg-Billbrook vào ngày 22 tháng 8 năm 1980. Nguyễn Ngọc Châu và Đỗ Anh Lân đã tử vong – vụ tấn công này hiện được coi là một trong những vụ giết người có động cơ phân biệt chủng tộc đầu tiên tại Cộng hòa Liên bang Đức.

Các cuộc tấn công và tàn sát của phe cực hữu (những năm 1990)

Những biến động của quá trình thống nhất nước Đức đã dẫn đến bạo lực cực hữu gia tăng ở Đông và Tây Đức, chủ yếu nhắm vào người tị nạn, những người lao động hợp đồng trước đây và các nhóm thiểu số. Giữa năm 1991 và 1993, hàng chục vụ giết người và đốt phá, cũng như các cuộc bạo động tập thể đã được thực hiện bởi các nhóm tân Quốc xã có tổ chức, được một bộ phận dân chúng ủng hộ rộng rãi.

Từ góc nhìn của người Việt tại Đức, vụ sát hại cựu công nhân hợp đồng Nguyễn Văn Tú vào tháng 4 năm 1992 tại Neubrandenburg (Mecklenburg-Western Pomerania) và Phan Văn Toàn vào tháng 1 năm 1997 tại Fredersdorf (Brandenburg) đặc biệt đáng được nhắc tới. Cả hai vụ án này đều là minh chứng điển hình về hậu quả chết người của bạo lực phân biệt chủng tộc sau khi thống nhất đất nước.

Đỉnh điểm đau buồn của bạo lực cực đoan cánh hữu là cuộc bạo động Rostock-Lichtenhagen từ ngày 22 đến 26 tháng 8 năm 1992: Một đám đông giận dữ gồm những phần tử tân phát xít và cư dân địa phương đã bao vây nhiều ngày „Ngôi nhà Hoa Hướng Dương“, nơi đặt Trạm tiếp nhận Trung ương dành cho Người tị nạn (ZAST) và một ký túc xá của những người lao động hợp đồng Việt Nam. Trong cuộc tấn công, những kẻ gây án đã phóng hỏa tòa nhà – trước sự hoan nghênh của hàng trăm người chứng kiến. Cảnh sát đã không can thiệp đáng kể và còn rút lui tạm thời đúng vào giai đoạn quan trọng, bỏ mặc cư dân Việt tự xoay xở. Trong tình huống cực đoan này, nhiều người Việt Nam đã tự tổ chức để tự vệ – một hành động kháng cự tập thể thường gắn với những trải nghiệm Chiến tranh Việt Nam về mặt tiểu sử và văn hóa. Đối với nhiều người sống sót, cuộc tàn sát đánh dấu một chấn thương mới, lần này không gây ra bởi bạo lực thực dân hay cộng sản, mà bởi trải nghiệm về nạn phân biệt chủng tộc ăn sâu bén rễ tại nước Đức mới.

Tinh thần đoàn kết và kháng cự liên đới và quốc tế (những năm 1990)

Mặc dù truyền thông tập trung vào các nạn nhân người Việt, nhưng việc người Sinti và Roma là những mục tiêu đầu tiên của cuộc bạo động ở Rostock-Lichtenhagen thường bị che khuất – những trải nghiệm của họ phần lớn bị gạt đi trước việc xử lý công khai. Tương tự, vai trò của các nhà hoạt động người Pháp, bao gồm các thành viên của tổ chức „Con trai và Con gái của những người Do Thái bị trục xuất tại Pháp“ đã tham gia hành động chiếm đóng tượng trưng tòa thị chính Rostock với tinh thần đoàn kết xuyên quốc gia, cũng ít được biết đến. Những hành động đoàn kết liên đới và quốc tế như vậy chứng minh rằng sự kháng cự và đoàn kết không chỉ giới hạn trong các cộng đồng dân tộc hay quốc gia riêng lẻ, mà còn hình thành nên một liên minh hậu thuộc địa và chống phát xít rộng lớn hơn – mặc dù trong văn hóa kí ức thống trị, liên minh này vẫn bị xem nhẹ đáng kể cho đến ngày nay.

Những năm 1990

Tỷ lệ sinh tăng ở những người lao động hợp đồng Việt Nam sau năm 1990: Thế hệ thứ hai (1990-1992)

Vào những năm 1980, một chính sách gia đình mang tính hạn chế đối với lao động nước ngoài, đặc biệt với phụ nữ có hiệu lực tại CHDC Đức. Trong nhiều trường hợp, việc mang thai dẫn đến việc trục xuất ngay lập tức về Việt Nam hoặc phá thai bắt buộc. Việc lập gia đình trên thực tế bị cấm, dẫn đến sự xâm phạm nghiêm trọng quyền sinh sản của nhóm dân số di cư này. Với sự sụp đổ của CHDC Đức và tái thống nhất nước Đức, những hạn chế này đã được dỡ bỏ. Nhiều phụ nữ và cặp vợ chồng Việt Nam trước đây sống trong điều kiện hạn chế giờ đây đã có thể sinh con. Điều này dẫn đến một sự thay đổi nhân khẩu học: đầu những năm 1990, tỷ lệ sinh cao hơn mức trung bình trong cộng đồng người Việt ở Đông Đức đã diễn ra – một khởi đầu rõ rệt đối với thế hệ thứ hai trong thực tế cuộc sống của người Việt tại Đức.

Con cái của những người từng là công nhân hợp đồng lớn lên trong một môi trường xã hội bị chi phối bởi sự trỗi dậy của cánh hữu, bạo lực phân biệt chủng tộc (như vụ Rostock-Lichtenhagen năm 1992) và sự bất ổn xã hội. Nhiều gia đình sống trong điều kiện bấp bênh, thường không có tư cách cư trú an toàn. Đồng thời, thế hệ thứ hai bắt đầu quá trình đàm phán văn hóa đầu tiên giữa xã hội nguồn cội và xã hội nơi sở tại: Những câu hỏi về cảm giác thuộc về, ngôn ngữ, giáo dục và bản sắc trở nên đặc biệt cấp thiết đối với thế hệ này – thường trái ngược không những đối với nền văn hóa cội nguồn của cha mẹ mà còn đối với xã hội đa số.

Cuộc đấu tranh giành quyền cư trú của những người lao động hợp đồng Việt Nam những năm 1990: Giữa bất ổn và cuộc chiến đòi quyền lợi (1990-1997)

Sau khi nước Đức tái thống nhất vào năm 1990, hàng chục nghìn cựu công nhân hợp đồng Việt Nam tại Đông Đức đột nhiên mất cơ sở pháp lý để cư trú và làm việc. Hầu hết trong số họ đã đến Đức theo các hiệp định song phương giữa CHDC Đức và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam – những hợp đồng đã mất hiệu lực cùng với sự sụp đổ của CHDC Đức. Điều này tạo ra một tình huống bấp bênh: Nhiều người thất nghiệp và chính thức bị „buộc phải rời đi“, mặc dù họ thường đã sống ở Đức nhiều năm. Nhà nước đã tạo thêm động lực cho việc rời đi bằng „khoản tiền thưởng hồi hương“ trị giá 3.000 Mark Đức.

Đầu những năm 1990, một giai đoạn đấu tranh giành quyền cư trú đã diễn ra căng thẳng, trong đó người Việt nhập cư lên tiếng cho quyền cư trú lâu dài, quyền lao động và an sinh xã hội – được hỗ trợ bởi các nhóm xã hội dân sự, liên minh địa phương, các sáng kiến của nhà thờ, và đôi khi thậm chí cả chính quyền địa phương. Những cuộc đấu tranh cho quyền được ở lại này là biểu hiện của một thực tế xã hội cơ bản: Bất chấp những nỗ lực ngược lại của chính quyền nhà nước trong thời kỳ CHDC Đức, những cựu công nhân hợp đồng từ lâu đã trở thành một phần không thể thiếu của xã hội – với tư cách là cha mẹ, doanh nhân và hàng xóm. Đồng thời, sự bất an, phân biệt chủng tộc mang tính thể chế và nạn bóc lột kinh tế vẫn tiếp tục định hình cuộc sống thường nhật của họ.

Nhiều cuộc đấu tranh diễn ra rời rạc, cả về mặt cá nhân lẫn pháp lý, nhưng cũng có những hành động tập thể – chẳng hạn như các cuộc biểu tình địa phương và khu vực, nhờ đến sự bảo trợ của nhà thờ hoặc lời kêu gọi công khai từ cộng đồng. Biểu hiện của sự tham gia xã hội dân sự này cũng là các sáng kiến như hiệp hội Reistrommel e.V. ở Berlin và hiệp hội Diên Hồng – Gemeinsam unter einem Dach e.V. ở Rostock, được thành lập vào những năm 1990 trong bối cảnh các cuộc đấu tranh cho quyền cư trú và vẫn đang hoạt động cho đến ngày nay trong các lĩnh vực như tư vấn, giáo dục chính trị và trao quyền.

Bất chấp sự phản đối chính trị ban đầu, đặc biệt là từ Bộ Nội vụ Liên bang, trong những năm qua – một phần nhờ áp lực quốc tế – các quy định khoan dung, giấy phép lao động, và cuối cùng là giấy phép cư trú từng bước được thực hiện. Cuộc đấu tranh cho quyền ở lại do đó không chỉ là một cuộc đấu tranh pháp lý mà còn mang tính biểu tượng cho sự công nhận xã hội, phẩm giá con người và sự tham gia vào xã hội.

Quy định về tình trạng cư trú của người lao động hợp đồng Việt Nam tại Đông Đức (1997): Sự công nhận về mặt thể chế sau nhiều năm pháp lý bấp bênh

Năm 1997, dưới áp lực của Liên Hợp Quốc và kết quả của các sáng kiến lâu dài của xã hội dân sự và chính quyền địa phương về quyền cư trú, một bước ngoặt mang tính quyết định về quyền cư trú của hàng chục nghìn cựu công nhân hợp đồng Việt Nam tại Đức đã được khởi xướng. Vào tháng 6 năm 1997, trước áp lực nhân đạo và ngoại giao từ Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc, Hội nghị Thường trực các Bộ trưởng Nội vụ các bang (IMK) đã thông qua một quy định cấp phép cư trú thống nhất toàn bang cho những người lao động hợp đồng trước, đáp ứng các tiêu chí nhất định (bao gồm nhiều năm cư trú, không có tiền án và đảm bảo sinh kế). Điều này đã cấp cho hàng chục nghìn người Việt Nam giấy phép cư trú hợp pháp dài hạn lần đầu tiên – một sự công nhận trên thực tế về thực trạng xã hội của họ sau gần một thập kỷ sống bấp bênh ở nước Đức tái thống nhất. Tuy nhiên, nhiều cơ chế loại trừ vẫn được áp dụng – đặc biệt là đối với những người có thời gian cư trú gián đoạn, thiếu lịch sử lao động hoặc giấy tờ tùy thân không rõ ràng. Do đó, quy định mới không đánh dấu sự chuyển đổi hoàn toàn sang quyền bình đẳng, mà đúng hơn là một sự nhượng bộ hạn chế trong khuôn khổ chính sách di cư thực dụng.

Những năm 2010 đến nay

Trao quyền chính trị kí ức:

Thế hệ thứ hai của cộng đồng người Việt tại Đức (từ những năm 2010)

Kể từ những năm 2010, tại Đức xuất hiện bước ngoặt rõ rệt trong cách cộng đồng người Việt ở nước ngoài thể hiện bản thân công khai – đặc biệt nhóm thế hệ thứ hai hiện ra ngày càng tự tin hơn, bao gồm con cháu của cả cộng đồng „người tị nạn bằng thuyền“ ở Tây Đức và của những người lao động hợp đồng ở Đông Đức trước đây. Thế hệ này ngày càng bắt đầu công khai đề cập đến những câu chuyện bị gạt ra ngoài lề hoặc phi chính trị hóa từ lâu của cha mẹ họ, suy ngẫm phê phán về chúng và đánh giá lại chúng từ góc nhìn chính trị kí ức. Trọng tâm của điều này là các vấn đề về phân biệt chủng tộc, phân biệt giai cấp, trải nghiệm hậu xã hội chủ nghĩa, chấn thương liên thế hệ và cảm giác thuộc về đất nước nhập cư là nước Đức. Không giống như các thế hệ trước, những người thường dựa vào sự vô hình và đồng hóa, thế hệ mới sử dụng phương tiện kỹ thuật số, nghệ thuật, âm nhạc và báo chí để đóng góp quan điểm của họ vào diễn ngôn xã hội. Ví dụ điển hình là các tác phẩm của nhạc sĩ Nashi44, nghệ sĩ Sung Tiêu và nhà văn Hami Nguyễn, những người đối mặt với thực tế cuộc sống, biến động chính trị và trải nghiệm phân biệt chủng tộc của người Việt tại Đức. Những đóng góp báo chí như podcast Rice and Shine (có sự tham gia của Minh Thư Trần và Vanessa Vũ) hoặc nghiên cứu của Nhi Lê cũng có góp phần quan trọng cho chính trị kí ức.

Bước ngoặt chính trị kí ức này không đồng nhất; nó đa tầng và phức tạp. Thế hệ thứ hai mang theo những trải nghiệm xã hội hóa khác nhau – tùy thuộc vào việc họ lớn lên trong bối cảnh lưu vong ở Tây Đức hay trong bối cảnh của những người hợp đồng lao động tại Đông Đức. Đồng thời, các liên minh và hình thức ngày càng toàn diện xuất hiện, vượt qua những chia rẽ nội bộ cộng đồng và phát biểu những mối quan tâm chung.

Ngoài ra, còn có những làn sóng di cư mới hơn – ví dụ, trong khuôn khổ du học hoặc trong bối cảnh tuyển dụng có mục tiêu đối với lao động có tay nghề. Sự phát triển này gắn liền với „quan hệ đối tác chiến lược“ giữa Đức và Việt Nam tồn tại từ năm 2011 và trong khuôn khổ đó, các chương trình song phương nhằm thúc đẩy đào tạo nghề đã được thỏa thuận. Đặc biệt trong lĩnh vực điều dưỡng và khách sạn, thực tập sinh Việt Nam hiện nằm trong những nhóm nhân lực trẻ quốc tế đông đảo nhất.

Thuật ngữ

Đông Dương, Chiến tranh và Hội nghị

Đông Dương mô tả các vùng đất liền của Đông Nam Á, phía nam Trung Quốc và phía đông tiểu lục địa Ấn Độ. Thuật ngữ này lần đầu tiên được sử dụng bởi nhà địa lý người Pháp gốc Đan Mạch Conrad Malte-Brun (1775–1826) trong tác phẩm „Précis de la Géographie Universelle“ (Tóm tắt Địa lý Toàn cầu) xuất bản tại Paris năm 1810. Về mặt chính trị, Đông Dương bao gồm các vùng lãnh thổ ngày nay là Lào, Campuchia và Việt Nam, chúng được sáp nhập vào đế chế thực dân Pháp với tên gọi Liên hiệp Đông Dương (Union Indochinoise), tức „Đông Dương thuộc Pháp“ từ năm 1887.

Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất/Chiến tranh Đông Dương của Pháp/Chiến tranh Đông Dương

Thuật ngữ chỉ cuộc xung đột vũ trang giữa cường quốc thực dân Pháp và phong trào độc lập ở Việt Nam do Việt Minh (Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội) lãnh đạo từ năm 1946 đến năm 1954. Cuộc chiến kết thúc với thất bại của Pháp trong trận Điện Biên Phủ và dẫn đến Hội nghị Đông Dương Geneva.

Những tên gọi khác nhau phản ánh những góc nhìn khác nhau về sự kiện lịch sử:

Chiến tranh Đông Dương của Pháp nhấn mạnh vai trò của Pháp như một cường quốc thực dân

Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất khác biệt về mặt lịch sử với cách gọi Chiến tranh Việt Nam

Chiến tranh Đông Dương được sử dụng như một thuật ngữ chung trung lập hơn

Hội nghị Geneva Đông Dương

Hội nghị quốc tế được tổ chức tại Geneva, Thụy Sĩ, năm 1954 nhằm đàm phán giải pháp cho các cuộc xung đột ở khu vực Đông Dương lúc bấy giờ (nay là Việt Nam, Lào và Campuchia). Hội nghị đã dẫn đến Công ước Geneva năm 1954, trong đó có điều khoản quy định tạm thời chia cắt Việt Nam dọc theo vĩ tuyến 17, với lời hứa về cuộc tổng tuyển cử tự do thống nhất đất nước, tuy nhiên, điều này đã không bao giờ diễn ra.
Hội nghị được coi là một bước ngoặt địa chính trị trong Chiến tranh Lạnh và đánh dấu sự chuyển đổi từ cuộc đấu tranh giải phóng chống thực dân sang một cuộc chiến tranh ủy nhiệm toàn cầu. Mặc dù hội nghị đã chấm dứt chế độ thực dân Pháp, nhưng việc chia cắt Việt Nam đã đặt nền móng cho Chiến tranh Việt Nam/Chiến tranh Mỹ sau này.

Chiến tranh Việt Nam, Việt Minh, Việt Cộng

Chiến tranh Việt Nam/Chiến tranh Hoa Kỳ

Cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ năm 1955 đến năm 1975 được gọi bằng nhiều cách khác nhau, tùy thuộc vào góc nhìn lịch sử và địa chính trị. Trong khi thuật ngữ „Chiến tranh Việt Nam“ chủ yếu được sử dụng trên phạm vi quốc tế, người Việt Nam tự gọi nó là „Kháng chiến chống Mỹ“. Cuộc chiến diễn ra giữa miền Bắc Việt Nam do cộng sản cai trị, được Liên Xô và Trung Quốc hậu thuẫn, và miền Nam Việt Nam theo đường lối phương Tây với Hoa Kỳ là đồng minh quan trọng nhất của miền Nam.

Các tên gọi khác nhau phản ánh những góc nhìn khác nhau về cuộc xung đột: thuật ngữ quốc tế tập trung vào khu vực xung đột, trong khi thuật ngữ tiếng Việt nhấn mạnh vai trò chủ đạo của Hoa Kỳ với tư cách là một cường quốc can thiệp.

Việt Minh
(Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội)

Được thành lập vào năm 1941 với tư cách là một phong trào dân tộc chủ nghĩa và cộng sản chống lại chế độ thực dân Pháp, Việt Minh được coi là tổ chức tiền thân của quân đội miền Bắc Việt Nam, nhưng không đóng vai trò trực tiếp nào trong Chiến tranh Việt Nam sau đó.

Việt Cộng

Một thuật ngữ miệt thị được sử dụng ở phương Tây để chỉ lực lượng quân sự của phong trào du kích cộng sản ở miền Nam Việt Nam.

Tên tiếng Việt chính thức: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam

Mục tiêu của phong trào là thống nhất miền Nam với miền Bắc dưới sự lãnh đạo của cộng sản. Mặc dù mang hàm ý tiêu cực, thuật ngữ Việt Cộng đã trở thành thuật ngữ quốc tế phổ biến.

Người tị nạn bằng thuyền, Người vượt biên, người lao động hợp đồng, hợp đồng tuyển dụng, quy định về giấy phép cư trú, những người bị đàn áp chính trị dưới chế độ cộng sản

Người tị nạn bằng thuyền

Thuật ngữ quốc tế dành cho những người tị nạn Việt Nam chạy trốn khỏi sự đàn áp, nghèo đói và đàn áp chính trị bằng thuyền sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc (1975).

Thuyền nhân

Thuật ngữ chính thức của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thường được sử dụng trong các báo cáo của chính phủ, cũng liên quan đến cộng đồng người Hoa thiểu số.

Người vượt biên

Một cách tự xưng được nhiều người tị nạn bằng thuyền sử dụng. Thuật ngữ này phần lớn không được biết đến trong khu vực nói tiếng Đức, nhưng lại có tầm quan trọng cốt lõi cả về mặt lịch sử lẫn tự truyện.

Người lao động nước ngoài/người lao động hợp đồng

Thuật ngữ chính thức của Cộng hòa Dân chủ Đức dành cho người lao động di cư từ các quốc gia đối tác xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, Angola hoặc Mozambique.

Tuy nhiên, ở nước Đức thống nhất, thuật ngữ „người lao động hợp đồng“ của Tây Đức thường được sử dụng để chỉ mô hình lao động khách mời của Cộng hòa Liên bang Đức. Tuy nhiên, việc so sánh hai thuật ngữ này gặp nhiều vấn đề, vì chúng có bối cảnh chính trị và xã hội khác nhau.

Thỏa thuận tuyển dụng

Thuật ngữ này đề cập đến các hợp đồng song phương giữa CHDC Đức và các quốc gia đối tác xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, Angola hoặc Mozambique liên quan đến việc gửi lực lượng lao động đến CHDC Đức có thời hạn. Các thỏa thuận này quy định điều kiện làm việc và cư trú của „lao động nước ngoài“.

Các hợp đồng này dựa trên hệ tư tưởng nhà nước xã hội chủ nghĩa, tuyên truyền tinh thần đoàn kết quốc tế, nhưng bao gồm các cơ chế kiểm soát cứng nhắc và chỉ cấp các quyền hạn hạn chế cho người lao động được cử đi.

Quy định về quyền cư trú

Giải pháp hành chính tạm thời tại Cộng hòa Liên bang Đức ngày nay cho phép một số nhóm người di cư có được tư cách cư trú hợp pháp – thường là sau nhiều năm có tư cách cư trú tạm thời (tạm dung).

Bị đàn áp chính trị bởi chủ nghĩa cộng sản

Thuật ngữ dùng để chỉ những người đã phải chịu sự đàn áp trong các quốc gia xã hội chủ nghĩa, chủ yếu được sử dụng trong các cuộc thảo luận ở Đức sau năm 1990. Trong các cuộc thảo luận về chính trị kí ức, thuật ngữ này thường được sử dụng một cách khái quát và góp phần vào việc đạo đức hóa về sau, dẫn đến nhiều vấn đề đối với sự cạnh tranh hệ thống lịch sử. Trong bối cảnh di cư của người Việt Nam sang Đức, thuật ngữ này cần được sử dụng một cách thận trọng, vì nó có thể chính trị hóa các lý do cá nhân của việc chạy nạn và làm đơn giản hóa các câu chuyện di cư phức tạp.

Bắc/Nam/Chia cắt/Tái thống nhất

Miền Bắc Việt Nam/Miền Nam Việt Nam

Miền Bắc Việt Nam (tên chính thức: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) dưới sự lãnh đạo của cộng sản với thủ đô là Hà Nội,

Miền Nam Việt Nam (tên chính thức: Việt Nam Cộng hòa) dưới sự lãnh đạo của chính phủ chống cộng sản với thủ đô là Sài Gòn.

Sự phân chia vào năm 1954 về mặt chính thức được coi là tạm thời, nhưng đã phát triển thành sự chia cắt vĩnh viễn của hai vùng lãnh thổ cho đến khi thống nhất vào năm 1976 sau chiến thắng của miền Bắc Việt Nam.

Cả hai quốc gia đều tham gia chặt chẽ vào cuộc xung đột Đông-Tây toàn cầu, mỗi quốc gia có hệ thống tư tưởng, kinh tế và xã hội khác nhau.

Tái thống nhất/Cách mạng hòa bình/Bước ngoặt

Những thuật ngữ này chủ yếu bắt nguồn từ khung diễn giải của Tây Đức và gợi ý một câu chuyện thành công tuyến tính. Chúng thường che khuất những xáo trộn về kinh tế, xã hội và văn hóa đi kèm với việc thống nhất nước Đức. Việc sử dụng chúng thiếu cân nhắc có thể làm lu mờ quan điểm của Đông Đức và người di cư.

Một mô hình ngữ nghĩa tương tự cũng được thấy rõ trong diễn ngôn nhà nước Việt Nam: Việc thống nhất Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975 được chính thức gọi là „thống nhất đất nước“ – thường liên quan đến „Ngày Giải phóng miền Nam“. Ở đây, một câu chuyện do nhà nước thúc đẩy về sự thống nhất cũng chiếm vị trí trung tâm, giải quyết không trọn vẹn những mâu thuẫn, mất mát và rạn nứt đang diễn ra. Ngược lại, những người tị nạn thuyền Nam Việt Nam – ví dụ như ở Hoa Kỳ, Úc hoặc Tây Đức – „Ngày Quốc hận“ dùng để thể hiện nỗi đau của việc chạy nạn, bị đánh bại và mất quyền tự quyết chính trị.

Khuyến nghị: Sử dụng các thuật ngữ này một cách có phê phán và phù hợp với ngữ cảnh – cả trong khuôn khổ kí ức không những ở tiếng Đức-Đức mà còn tiếng Việt.

Nguyễn Đan Thy / Mình không hay biết thời gian là gì , Bài luận, 2025

Khi năm tuổi, mình bắt đầu học tiếng Đức.

Mình học từ vựng và ngữ pháp như thể đang tụng lại những câu thần chú trong Phật giáo:

Tôi đi.

Bạn đi.

Anh ấy, cô ấy, nó đi.

Chúng ta đi.

Các cậu đi.

Bọn họ đi.

Và khái niệm về hiện tại, quá khứ và tương lai đóng đinh trong đầu mình –

Các thì là các phân đoạn. Chúng là những mỏ than, nơi người ta có thể khai thác. Nhưng cẩn thận đấy: Nếu nhìn quá sâu vào quá khứ, cả mỏ sẽ sụp đổ, người ta nói với mình như vậy. Thế nhưng, điều đó lại quan trọng với nền công nghiệp của chúng mình. Chúng mình đang ở đây, tại nước Đức, người ta nói với mình. Ở Weisweiler. Và cha mình chính là thợ mỏ. Tại nhà máy điện than non lớn nhất vùng. Tất cả chúng mình đều sống ở đây nhờ những quặng than, người ta nói với mình như thế. Và con đâu muốn cha mình mất công việc của ông ấy. Chúng mình là người nước ngoài nơi đây. Nếu con muốn tỏ lòng biết ơn, thì đừng nói gì chống lại nhà máy điện than, người ta nói vậy với mình. Và hãy tưởng nhớ những người đã khuất. Cả gia đình con nữa. Con hiểu chứ?

Nó là ngày 6 tháng 1 năm 2021, tại Washington.

Những lá cờ Mỹ tung bay. Và những cánh cửa bị đập tan. Kính vỡ vụn, và cùng với nó là hy vọng về một cuộc chuyển giao quyền lực nhân đạo. Những hình ảnh xâm chiếm màn đêm đang len lỏi vào hàng triệu – không, hàng tỷ cặp mắt. Ở đó, ngay rìa một trong những hình ảnh chấn động truyền thông mang tính biểu tượng ấy, mình nhìn thấy một mảnh vải vàng với ba sọc đỏ. Lá cờ miền Nam Việt Nam cũ. Và đứng trước nó là một người đàn ông. Và cảm giác như thể chú mình đang đứng đó – đấu tranh vì Trump. Chú mình tiểu bậy vào điện Capitol. Chú mình gào thét về vụ cưỡng hiếp Nancy Pelosi.

Và mình rất vui khi cả thế giới sẽ không thể đọc được khoảnh khắc này. Trong một khoảnh khắc, mình mừng vì nhân loại gần như đã quên lịch sử về những người Việt tị nạn bằng thuyền. Giá mà họ biết rằng chúng mình, những người Việt Nam ấy, rằng chúng mình đã ở đó, rằng chúng mình đã xông vào Điện Capitol…

Tuyết rơi ngoài trời. Mình đang nằm trên giường trong căn hộ xã hội của mình. Mình 12 tuổi. Hằng đêm, mình mơ về một cuộc chiến tranh mà mình chưa từng trải qua. Mình mơ về những chú lính thiếc, những quả bom Napalm và những con người la hét. Về cái nóng nhiệt đới, về những trái quýt và những chiếc kẹp hạt dẻ Giáng sinh. Về những hóa chất phun lên những cánh rừng và làn da bỏng rộp trên cơ thể trẻ con.

Màu đỏ. Màu đỏ là màu của hạnh phúc. Màu đỏ là màu của phong bao lì xì năm mới, màu đỏ là màu của máu, màu đỏ là màu của chủ nghĩa cộng sản, màu đỏ là màu của ông già Noel.

Khi còn nhỏ, mình chạy trốn để bảo toàn mạng sống trong một cuộc chiến mà mình chưa từng trải qua, trong cuộc chiến của cha mẹ mình. Trong cuộc chiến của cha mẹ mình mà họ giữ im lặng.

Đôi khi mình thức dậy đẫm mồ hôi và thấy thật nhẹ nhõm khi đã sống sót sau cuộc chiến với những người lính thiếc và bom Napalm.

Gần bốn mươi tuổi, mình viết bài thơ này:

Khi cha mình được trao vương miện Vua của Loài Chó

Khi cha mình vào trại tị nạn

nơi đó, những người cai trị mới đã tóm lấy ông

và xé lưỡi ông ra

chiếc lưỡi cũ

chiếc lưỡi cũ

với nó, ông có thể hét lên tình yêu

ngay cả khi ông chưa bao giờ làm như thế

ngay cả khi ông chưa bao giờ làm như thế

Tiếng hét ấy từ tình yêu

Họ đã phong vương cho ông

họ đã xức dầu cho ông

họ trang hoàng ông

như con chó

như chó hoang

như con chó hoang xinh đẹp

như một vị vua giữa tất cả loài chó

vị vua duy nhất giữa bầy chó hoang.

Ông chặt gỗ

một cái cây, không, hai cái

trong những giọt nước mắt hạnh phúc.

Ông đã giết chết cả một cánh rừng

và cảm tạ những kẻ cai trị mới

vì cuộc sống không lưỡi của ông

và cầu xin

tự hào như một vị vua, bị đóng dấu là chó hoang

với tiếng cười ngạo mạn

của một người không bị giết.

Khi mình chào đời

cha tặng mình

giọt nước mắt hân hoan của ông

và phong mình làm thú của ông

Kể từ đó mình là chó của ông.

Và ông nói với mình

rằng ông là chủ mới của mình

bằng tình yêu.

Sẽ mất bảy vòng đời

tới lúc mình được phép giết cha.

Để cả hai chúng mình cùng sống.

Mẹ mình nói, chúng mình, những người chạy khỏi chủ nghĩa cộng sản, không thể hòa hợp với những người cánh tả. Mẹ mình nói với mình rằng CDU sẽ rời đi. SPD: bị cấm, mẹ mình nói với mình. PDS hay Đảng Cánh tả – chúng mình không cần phải bàn về chuyện đó. Và đúng như vậy, mọi cuốn sách đỏ trong nhà đều bị cấm. Tất nhiên, tuyên ngôn Cộng sản: bị cấm, nhưng cả thơ tình của Brecht: cũng bị cấm, tất cả các tập sách Reclam màu đỏ thuộc bộ sách tiếng nước ngoài: cũng bị cấm.

Nếu con hiểu lý do mình sống, nếu con biết ơn cuộc sống, nếu con yêu mẹ dù chỉ một chút, thì con sẽ không bao giờ bỏ phiếu cánh tả, mẹ mình nói với mình như vậy. Và con sẽ không bao giờ gặp phe Cộng sản, đúng không?

Mình có bao giờ yêu mẹ mình không?

Vào giữa độ tuổi ba mươi, mình viết bài này:

Mẹ mình sợ hai thứ: rừng – nước.
Với nước, mình hiểu: Bà đã vượt qua biển, trên một chiếc thuyền gỗ. Cùng gần trăm người khác. Bà luôn sợ chết đuối.

Nhưng bà cũng nói, „Đừng vào rừng! Vì ở đó có rắn. Ở đó toàn là mìn. Ở đó có chiến tranh. Ở đó Cộng sản sống. Ở đó con tìm thấy chỉ xác người.“

Vậy nên mình ở nhà. Suốt 12 năm ròng rã. Mình chỉ ra ngoài đi học. Và nếu mình mất quá nhiều thời gian để về nhà, cây gậy gỗ được lấy ra và mình phải nằm xuống. „Mẹ đánh con vì mẹ yêu con nhiều lắm. Đó là bổn phận của mẹ với tư cách là một người mẹ“, mẹ mình nói. „Mẹ đánh con để con biết loại sợ hãi nào sẽ bảo vệ con“, mẹ nói. „Nỗi đau này là nước ngọt tình yêu của mẹ dành cho con. Dòng sữa mẹ của mẹ từ hàng thế kỷ chiến tranh và bao thế hệ của những mộng mơ dang dở“, mẹ mình nói với mình.

Đôi khi mình muốn thoát ra. Mình muốn rời khỏi thành phố công nghiệp này. Để xé tan nỗi đau của tổ tiên và cha ông ra khỏi lồng ngực. Mình muốn đến khu rừng, nơi mà trong mắt mình là sự đối lập với thiên đường. Mình muốn vào rừng, tới cánh rừng xám xịt vì những bụi than.

Sau 12 năm cuộc đời, không còn là một đứa trẻ nữa, mình đã có dũng khí và đạp xe vào khu rừng gần nhất.

Và ở đó, sau một thời gian lạc lối, mình đã tìm thấy một nhà sử học nghiệp dư đang tìm kiếm những vỏ đạn súng trường cũ đã được sử dụng ở trận chiến rừng Hürtgen. „Trong cánh rừng nước Đức, rất nhiều lịch sử đang nằm ẩn giấu”, ông ấy nói với mình. „Nếu cháu tìm kiếm kĩ, cháu sẽ tìm thấy nhiều điều“, ông ấy nói với mình. „Trong cánh rừng này, quân Đức Quốc xã đã từng ở đó. Và đây là một trong những chiến trường khốc liệt nhất. Trong cánh rừng nước Đức này, có cả một biển xác chết,“ ông ấy nói với mình.

Khi mình về nhà, mình nhận 1000 cái roi trải dài suốt mười ngày: Sáng 33 cái. Trưa 33 cái. Tối 33 cái. Mẹ mình sợ rằng, mình sẽ ngất xỉu vì đau nếu bà cứ đánh mình không ngừng. Mình không được phép đến trường để thầy cô không thấy được những vết bầm tím.

Sau mười ngày đó, mình biết rằng, mình sẽ không bao giờ còn có thể từ tình yêu thuần khiết mà trở thành đứa trẻ nữa.

Lê Nhi / Phần phương Đông, Bài luận, 2025

Đầu tiên, họ làm việc quần quật trong các nhà máy, khu liên hợp, sản xuất hàng hóa.
Sau đó, họ bán hoa, rau quả, quà tặng và quần áo.
Cơm và mì rang. Vịt chua ngọt.

Tôi là một trong những đứa con của họ. Con gái của một nam và một nữ công nhân hợp đồng. Thế hệ thứ hai.

Khi được hỏi, tôi nhận dạng mình thế nào, tôi nói người Đông Đức gốc Việt.

Vì hai lý do.

Thứ nhất, vì bố mẹ tôi đều đến CHDC Đức vào những năm 1980 để làm việc khi còn trẻ. Nền tảng là một hiệp định giữa „hai nước xã hội chủ nghĩa anh em“ là Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Đức. Thỏa thuận này rõ ràng mang tính Đông Đức. Nếu không có thỏa thuận ấy, bố mẹ tôi sẽ không bao giờ gặp nhau ở Chemnitz.
Tôi cũng sẽ không bao giờ tồn tại.

Thứ hai, vì tôi mang trong mình tính ngang ngạnh. Khi nghĩ đến người Đông Đức, hiếm ai nghĩ đến những chàng trai, cô gái trẻ Việt Nam.
Nhưng chúng tôi ở đây.

Tôi lớn lên trong một nhà hàng. Nhà hàng Trung Hoa của chúng tôi, chính xác là như vậy đấy. Chúng tôi từng phục vụ khách súp Bắc Kinh và chả giò. Nhân viên sẽ ăn đồ Việt sau giờ làm.
Quán chúng tôi đặc trưng cho khu vực đó, đặc trưng cho thời kì đó.
Người Việt bán đồ ăn được cho là đồ Hoa trong các nhà hàng, tiệm ăn nhỏ hoặc quán ăn nhanh. Một loại hình doanh nghiệp nhỏ mà người Việt đã thành lập để tự kinh doanh trong giai đoạn sau thống nhất, nhằm có thể ở lại Đức sau khi hợp đồng lao động của họ bị chấm dứt.

Ngày nay, trước sự phổ biến của ẩm thực Việt, dường như thật vô lý khi chúng tôi không phục vụ ẩm thực của riêng mình. Cha tôi từng nói người ta chọn đồ ăn Trung Quốc vì hai lý do: sự quen thuộc và nguồn cung. Khách hàng ở Đông Đức có thể hình dung rõ hơn về các món Trung Quốc, ít e ngại tiếp xúc với nó hơn, với cả các nguyên liệu cần cho món Việt cũng khó tiếp cận. Vì vậy, thực đơn của chúng tôi chịu ảnh hưởng bởi các món Trung Quốc. Sushi được thêm vào những năm 2000. Trước khi cơn sốt ẩm thực Việt lan đến thị trấn nhỏ này, thì cha tôi đã chuyển đi vào những năm 2020 rồi.

Tuổi thơ của tôi thật đẹp. Bố mẹ tôi đã chia tay, nhưng một gia đình người Đức, gia đình người trông trẻ của tôi, cũng đã chăm sóc tôi. Nhờ họ, tôi đã lĩnh hội những hiểu biết đời thường và thậm chí cả góc nhìn của người Đông Đức. Tuy nhiên, ít nhất hồi còn thiếu niên, tôi khao khát được sống ở một thành phố lớn. Ở thành phố Thüringen bé nhỏ ấy, tôi cảm thấy ngột ngạt và lạc lõng. Bố mẹ tôi từng gặp nhau ở Chemnitz cơ đấy. Giá mà họ chỉ ở lại đó. Như vậy, tôi đã không phải lê bước trên chuyến tàu địa phương đến thành phố lớn hơn vào cuối tuần chỉ để trải nghiệm điều gì đó, tôi cũng sẽ ít phải trải qua những tiếng chửi rủa của mấy tên phát xít ở ga tàu hơn. Tôi sẽ không phải là người duy nhất trong lớp không có làn da trắng. Tôi sẽ cảm thấy tự do hơn.

Tại sao bố ít kể về thời gian ở DDR thế? – tôi từng hỏi bố. Vốn từ đó tới giờ, tôi đâu có quan tâm điều đó. Phải chăng giữa thế hệ thứ nhất và thứ hai tồn tại một sự im lặng nào đó hay chúng tôi đơn giản từ lâu đã không biết đặt câu hỏi đúng?

Thế hệ đầu tiên đã cống hiến và thường phải chịu đựng.
Tôi có thể viết về những khó khăn. Công việc, luật lệ, điều kiện sống, sự bất bênh, bạo lực, sự phân biệt chủng tộc.
Hoyerswerda, Halle, Rostock.

Nhưng ở đây, tôi muốn bắt đầu từ một điểm khác. Cụ thể là ở chúng tôi, thế hệ thứ hai.

“Sao con lại tập trung vào những trở ngại của thời đó quá vậy?“ là một trong những câu hỏi mẹ hỏi tôi, sau khi bà xem phóng sự của tôi về cuộc sống người Việt ở Đông Đức. Trong phim, tôi đã trò chuyện với một nhân chứng thời đó, hỏi ông về những trải nghiệm của mình khi là một người lao động hợp đồng Việt Nam ở Đông Đức cũng như nhiều vấn đề nữa. Tôi chỉ đơn giản muốn
nghe tất cả mọi khía cạnh.

Tôi sẽ không bao giờ quên cách một nhân chứng vụ bạo động ở Rostock-Lichtenhagen kể với tôi rằng những cuộc tấn công đó chẳng làm ông sợ hãi. Suy cho cùng, ông cũng đã trải qua chiến tranh cơ mà.

Người Việt Nam can đảm, kiên cường và giỏi nhìn về phía trước. Rất giỏi trong việc không sa lầy trong thương đau của quá khứ. Khi nhìn lại quá khứ Đông Đức của thế hệ cha mẹ chúng tôi, tôi thấy rất nhiều bất công. Tuy nhiên, tôi đâu có quyền dội chiếu đau thương lên thế hệ cha mẹ tôi chứ.
Tôi không thể đòi hỏi cha mẹ mình nên khắt khe hơn hay thể hiện những mong muốn, ước mơ và thất vọng của họ theo cách phù hợp với tôi. Tuy nhiên, điều tôi có quyền làm là cảm thấy tức giận và lấy sức mạnh từ đó.

Tôi quyết tâm và những người bạn thuộc thế hệ thứ hai của tôi cũng vậy. Chúng tôi không cần phải chứng minh bản thân, không cần phải hòa nhập – chúng tôi là một phần của xã hội, một phần của phương Đông.

Tôi thấy vui khi biết rằng chúng tôi ngày càng trở nên lớn tiếng và nổi bật hơn, rằng chúng tôi đang kết nối, tổ chức, dựa vào sức mạnh của cha mẹ chúng tôi để tạo nên những điều mới, cũng như kể những câu chuyện thầm lặng và bị bỏ qua trong những không gian khác nhau.

Chúng tôi là diễn viên, tác giả, nhà làm phim, nhà nghiên cứu, doanh nhân và thậm chí là đại biểu nghị viện bang. Thuộc về nghệ thuật, văn hóa, chính trị và mọi khía cạnh của cuộc sống.

Chúng tôi là Mai Dương Kiều, Vũ Vân Phạm, Hami Nguyễn, Quang Paasch, Sung Tiêu, Hạnh Mai Thị Trần, Mai Trang Nguyễn, Claudia Tuyết Scheffel, Nam Duy Nguyễn, Linh Trần, Trọng Đỗ Đức, Phương Trần Thị, Anh Trần, Paolo Lê Văn. Khá nhiều cái tên phải không? Ồ, chúng tôi còn rất nhiều nữa.

Các bên liên quan

Giám tuyển:

Nguyễn Đan Thy
Nguyễn Đan Thy là một đạo diễn sân khấu, diễn viên, nhà văn và ca sĩ tự do tại Hamburg. Anh đã tham gia nhiều tác phẩm khác nhau, bao gồm tại Ballhaus Naunynstraße, Kampnagel, Mousonturm Frankfurt, MDR và Deutsche Kammerphilharmonie Bremen. Năm 2014, anh đã phát triển và sản xuất vở kịch „Sonnenblumenhaus“ về cuộc bạo động Rostock-Lichtenhagen, vở kịch đã giành giải thưởng „Hörnixe“ cho phiên bản phát thanh năm 2015 và vẫn được trình diễn tại nhiều tổ chức khác nhau cho đến ngày nay. Từ năm 2020, anh đã chỉ đạo lễ hội „fluctoplasma – 96h Art Discourse Diversity“ của Hamburg cùng với công ty sản xuất Studio Marshmallow của mình, và anh là phó thành viên hội đồng quản trị của LAG Children and Youth Culture Hamburg. Năm 2021, anh và toàn bộ đoàn đã nhận được giải thưởng Kịch Phát thanh Đức cho màn diễn xuất của mình.

Nina Reiprich
Nina Reiprich là một nhà phát triển dự án tự do, người kết nối, nhà viết kịch, nhà sản xuất và người dẫn chương trình, chuyên về các góc nhìn hậu di cư, chống phân biệt chủng tộc và hướng đến sự đa dạng. Sau nhiều năm làm việc chăm chỉ trên đảo Veddel thuộc vùng Hamburg Elbe, nơi cô lãnh đạo dự án hợp tác và phát triển thành phố NEW HAMBURG cùng ba đồng nghiệp, cũng như giám tuyển lễ hội SoliPolis, cô đã chuyển sang công việc tự do. Cô đã đồng hành việc sản xuất các chương trình như „Decolonized Glamour Talks“ của Lara-Sophie Milagro và là thành viên ban lãnh đạo của Lễ hội Fluctoplasma từ năm 2021.

Với sự đóng góp của:
„Ki“ Bùi
Bùi Mai Phương, còn được gọi là „Ki“ Bùi, là một nghệ sĩ đa ngành sống tại Hamburg và Sài Gòn. Cô hiện đang hoàn thành chương trình thạc sĩ tại Đại học Mỹ thuật Hamburg. Thực hành nghệ thuật của cô khám phá các cấu trúc và hệ thống phân cấp xã hội cũng như nghiên cứu hình ảnh. Trong tác phẩm của mình, cô khám phá sự giao thoa giữa trải nghiệm con người, sản xuất văn hóa và các quá trình mà qua đó, chúng ta hệ thống hóa và diễn giải xung đột, kí ức và các hiện tượng xã hội.

Lê Nhi
Lê Nhi là một nhà báo, người dẫn chương trình và tác giả. (Các lĩnh vực chuyên môn của cô bao gồm văn hóa truyền thông kỹ thuật số, sự giao thoa giữa nhạc pop và chính trị và xã hội nhập cư tại Đông Đức, tập trung vào cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.)
Tạp chí ZEIT xếp cô vào danh sách 100 người trẻ quan trọng nhất ở Đông Đức. Năm 2021, cô được tạp chí Medium bình chọn vào top 30 nhà báo dưới 30 tuổi xuất sắc nhất nước.

Nguyễn Duy Long
Nguyễn Duy Long sinh ra tại Hà Tĩnh, Việt Nam và đến Rostock vào năm 1984 với tư cách là người lao động hợp đồng, nơi ông làm phiên dịch cho một nhóm người Việt Nam công tác tại cảng biển Rostock và xưởng đóng tàu Neptun. Từ năm 2011, ông là chủ tịch hội đồng quản trị của Hiệp hội Diên Hồng (Dien Hong e.V.) và là thành viên của Hội đồng Di cư Hanseatic và Thành phố Đại học Rostock từ năm 2005.

Nguyễn Khanh
Nguyễn Khanh sinh năm 1985 tại Koblenz và hoạt động trong lĩnh vực ca sĩ, nhạc công và giáo viên âm nhạc. Cô theo học chuyên ngành thanh nhạc jazz/rock/pop tại Đại học Âm nhạc Carl Maria von Weber ở Dresden. Năm 2014, cô đảm nhận vai chính là công chúa Oanh trong tác phẩm „Những người con trai rồng và những người con gái tiên“ của Karsten Gundermann, do Julia Haebler đạo diễn. Năm 2016, cô sáng tác nhạc cho „Người đánh cá và vợ“, một tác phẩm hợp tác sản xuất giữa tjg. theatre junge generation Dresden, Viện Goethe Việt Nam và Nhà hát Tuổi trẻ Hà Nội. Nguyễn là ca sĩ của nhóm Lao Xao Trio, một nhóm nhạc chuyển thể các bài hát dân ca Việt Nam thành nhạc phẩm mang âm hưởng phong cách nhạc hiện đại. Năm 2019, cô xuất hiện với tư cách là ca sĩ và diễn viên trong vở „Thank You Germany, Cảm ơn nước Đức“ tại Nhà hát Schaubühne Berlin. Cô cũng hoạt động với tư cách là ca sĩ trong nhóm song ca khanhmusic cùng với Raphael Klitzing. Trong năm 2021 và 2022, Nguyễn biểu diễn với tư cách nữ ca sĩ của Song Lua Trioss cùng với Trí Nguyễn chơi đàn tranh Việt Nam và Diethard Krause chơi cello và viola da gamba. Hiện tại, cô sống cùng gia đình tại Berlin.

Phạm Minh Đức
Phạm Minh Đức là một nghệ sĩ và nghệ sĩ biểu diễn. Anh theo học ngành thiết kế triển lãm tại Đại học Nghệ thuật và Thiết kế Karlsruhe (HfG Karlsruhe) và ngành nghiên cứu biểu diễn và lý thuyết thiết kế tại Đại học Nghệ thuật Berlin (UdK Berlin).
Trong thực hành nghệ thuật của mình, anh chuyển đổi giữa nghệ thuật thị giác và nghệ thuật biểu diễn. Anh đề cập đến những vấn đề về bản sắc và thảo luận chúng tại những giao điểm của giới tính, chủng tộc và giai cấp.
Các tác phẩm của anh đã được triển lãm tại nhiều địa điểm, bao gồm Bảo tàng Mỹ thuật Leipzig, Bảo tàng Thành phố Dresden và gần đây nhất là Haus der Kulturen der Welt. Anh cũng đã tham gia nhiều vở diễn sân khấu và biểu diễn đa dạng tại HAU1 Berlin, HELLERAU và Nhà hát Cloud Gate Đài Bắc, cũng như tại Mousonturm Frankfurt. Phạm đã nhận được tài trợ từ nhiều tổ chức, trong đó có Quỹ Nghệ thuật Baden-Württemberg, Sở Văn hóa và Châu Âu của Thượng viện Berlin, Quỹ Nghệ thuật Biểu diễn và Quỹ Nghệ thuật.

Ngũ Thị Kim Thoa
Ngũ Thị Kim Thoa lớn lên ở Bến Tre và rời khỏi Việt Nam vào năm 1989, nơi bà được tàu Cap Anamur cứu. Năm 1979, cặp vợ chồng người Đức Christel và Rupert Neudeck đã khởi xướng một chiến dịch cứu hộ tư nhân trên biển dành cho người tị nạn Việt Nam: Trên tàu chở hàng Cap Anamur thuê, họ đã cứu hơn 10.000 người trên biển. Sau khi hoàn thành khóa đào tạo trợ lý nha khoa, bà vẫn làm nghề lái tàu hỏa.

Ngũ Thời Trọng
Ngũ Thời Trọng, sinh ra tại Cần Thơ, đã trốn khỏi Việt Nam vào năm 1980 và cũng được tàu Cap Anamur cứu. Kể từ khi đến Đức, ông làm nghề lái tàu.

Ngũ Thị Kim Thoa và Ngũ Thời Trọng sống sót sau vụ đốt phá phân biệt chủng tộc năm 1980 ở Hamburger Halskestraße, nay được đổi tên thành phố Châu và Lân để tưởng nhớ Đỗ Anh Lân và Nguyễn Ngọc Châu.

T. H. Minh Voll sinh năm 1992 tại Forchheim, là một họa sĩ minh họa và nhà thiết kế đồ họa người Đức gốc Việt. Các tác phẩm sáng tạo của cô đề cập đến vấn đề di cư, mối quan hệ giữa các thế hệ, giao thoa văn hóa cũng như các câu hỏi xã hội và triết học. Đầu năm 2024, cô xuất bản cuốn sách đầu tay „Rau muống phương Tây – Những cuộc phỏng vấn tại trung tâm tiếp nhận người tị nạn Forchheim“, một tuyển tập những câu chuyện giữa các nền văn hóa và hành trình tìm kiếm bản sắc cá nhân. Năm 2025, ấn phẩm này đã được trao giải đồng tại Giải thưởng Tài năng của Câu lạc bộ Giám đốc Nghệ thuật.

Liên minh Diễn ngôn Công cộng Đa nguyên (CPPD) là một mạng lưới hợp tác và nền tảng sản xuất với khoảng 95 nghệ sĩ, các nhà khoa học, nhà báo và nhà hoạt động, những người làm việc và nghiên cứu các nền văn hóa kí ức đa nguyên theo các cách khác nhau nhất. Mục tiêu của mạng lưới là phát triển các khái niệm chính sách giáo dục, nghệ thuật và xã hội dân sự cho hoạt động tưởng niệm xã hội đa nguyên.

Thông qua kết cấu của CPPD, các góc nhìn đa dạng về hoạt động xã hội, khoa học và nghệ thuật trong văn hóa ký ức được thể hiện và kết nối với nhau. Trọng tâm của công trình này là niềm tin rằng bất cứ ai muốn định hình hiện tại và tương lai theo tinh thần đa nguyên xã hội đều phải kể lại quá khứ theo một cách mới. Cùng với đó, các mối quan tâm chính sách kí ức của người Sinti và Roma và nhiều cộng đồng khác, các diễn ngôn Do Thái đa nguyên, hậu thuộc địa và phê phán phân biệt chủng tộc, cũng như các quan điểm của người di cư-hải ngoại và nữ quyền-đồng tính.

CPPD triển khai nhiều hình thức sự kiện và hoạt động can thiệp khác nhau – thảo luận nhóm, đọc sách, hội thảo, hội nghị, v.v.- hỗ trợ các dự án chính sách kí ức của các thành viên thông qua các khoản tài trợ nhỏ, cũng như tư vấn các tổ chức ở Đức và châu Âu cam kết cập nhật đồng thời văn hóa kí ức của họ. CPPD thiết lập mối liên hệ với các bên liên quan trong chính sách kí ức và kết nối những thành tựu từ các hoạt động trước đây của các bên xã hội dân sự ở Đức và châu Âu. Hiện nay, CPPD hoạt động trong một mạng lưới hơn 200 sáng kiến, tổ chức và tổ chức.

DML

Dynamic Memory Lab »Nước Đức. (Những) câu chuyện di cư Việt-Đức «

Giám tuyển
Nina Reiprich
Nguyễn Đan Thy

Với sự đóng góp của
Bùi KI
Lê Nhi
Nguyễn Đan Thy
Nguyễn Khanh
Nguyễn Duy Long
Phạm Minh Đức
Thị Kim Thoa và Ngũ Thời Trọng
Trần Minh Thư và Vũ Vanessa (Rice & Shine Podcast)
Wiebke Enwaldt (Dịch ngôn ngữ đơn giản)
Michael Kohls (Nhiếp ảnh gia)
Nguyễn Thu Hằng (Dịch tiếng Việt)
TS. Vũ Thanh Vân (Tư vấn nội dung)
Minh Voll (Minh họa)

Thiết kế không gian và
thiết kế triển lãm

Jan Bodenstein
Yair Kira

Giám tuyển của CPPD
Max Czollek
Jo Frank
Johanna Korneli

Nhóm CPPD
Hannah Blumas
Viridiana Cortes
Angela Mani
Francisco Schellert

Chúng tôi xin cảm ơn Diên Hồng – Gemeinsam unter einem Dach e.V. và Lichtenhagen Archive Rostock vì những lời khuyên và hỗ trợ về mặt khái niệm và nội dung.

Dynamic Memory Lab là một khái niệm của Liên minh Diễn ngôn Công cộng Đa nguyên (CPPD) và được thực hiện bởi DialoguePerspectives e.V.

Việc khai trương Dynamic Memory Lab Nước Đức là một phần của Lễ hội-heimaten phi tập trung. Mạng lưới heimaten là một sáng kiến của Haus der Kulturen der Welt trong khuôn khổ heimaten, được tài trợ bởi Ủy viên Chính phủ Liên bang về Văn hóa và Truyền thông dựa trên nghị quyết của Quốc hội Liên bang Đức.

©CPPD, Berlin 2025

cppdnetwork.com